Tỉnh thức, từ bi và thiền

Nghiên cứu khoa học về thiền

Matthieu Ricard, nhà nhân đạo, nhà văn, nhà khoa học, nhiếp ảnh gia, TedTalks. Altruism; A Plea for the Animals (2016).

Founder, Karuna-Shechen.org #vegan

https://lh6.googleusercontent.com/jRTPn79pRd6zhwITVd1d3MbNjmccix2DHmPxskCTokIfDlw5dJrxJIrsMgRT6vuwH6LzmXK0-6XCAvdfdgczoV8ekWQgtExQHDiFuwgHQZ5bJXKPjhKc2TgMmwXMnT3vJyE50WfJ

Ảnh: Olivier Adam, 2017, Paris. Matthieu Ricard hướng dẫn thực tập chánh niệm trong buổi giới thiệu sách “Cerveau et méditation”

Năm 2007, cùng với Tania Singer, tôi đến phòng thí nghiệm khoa thần kinh học của Rainer Goebel tại Maastricht, với tư cách cộng sự và đồng thời cũng là đối tượng thí nghiệm trong một chương trình nghiên cứu về sự thương cảm. Tania sẽ yêu cầu tôi tạo ra cảm xúc thương cảm một cách mạnh mẽ bằng việc tưởng tượng đến những người đang chịu một sự đau đớn vô cùng. Tania đã dùng kĩ thuật mới fMRI của Goebel. Nó có ưu điểm trong việc ghi nhận ngay lập tức sự thay đổi hoạt động của não bộ (fMRI-rt), trong khi dữ liệu thường không thể được phân tích ngay mà phải chờ một thời gian sau. Theo các quy ước của hình thức thử nghiệm này, thiền giả, trong trường hợp này là tôi, phải luân phiên thực hiện khoảng 20 lần việc phát sinh trạng thái tâm lý đặc thù, ở đây là sự thương cảm, và thư giãn ở trạng thái trung lập, không suy nghĩ về bất cứ một điều gì cụ thể hay áp dụng các biện pháp thiền định nào.

https://lh4.googleusercontent.com/TzhINb_RjnupeqR1GF43xvQjTO_bCqx8w_CMIggwVCD0P3NisiIKDKwYzZ8ewSAkB8pgGF-nt-lgq0_AINUtzOjcfui9JQ2ToG-Hxc2n2D2tmWJFrVypZxezxTCmCvx32vPI9Q-Y

Ảnh: Matthieu Ricard và fMRI scanner năm 2011. Courtesy The Max Planck Institute for Human Cognitive and Brain Sciences

Trong lúc nghỉ ngơi, sau khi kết thúc đợt thiền định đầu tiên, Tania đã hỏi tôi: “Ông đang làm gì vậy? Nó trông không giống như những gì chúng tôi thường quan sát được khi một người nảy sinh sự thương cảm đối với nỗi đau của người khác”. Tôi giải thích rằng tôi đã thiền định với lòng từ bi vô điều kiện, cố gắng để cảm thấy một cảm xúc mạnh mẽ hơn về tình yêu và lòng tốt đối với những người đang đau khổ, và đối với tất thảy chúng sinh.

Trong thực tế, những phân tích dữ liệu hoàn chỉnh được tiến hành sau đó đã xác nhận rằng các mạng lưới não bộ được kích hoạt trong trường hợp thiền định với lòng từ bi rất khác với những kích hoạt gắn với sự thương cảm, điều mà Tania đã nghiên cứu suốt nhiều năm. Trong những nghiên cứu trước đây, những người không thực hành thiền định đã quan sát một người ngồi gần máy quét và chịu những cú sốc điện đau đớn vào tay. Những người nghiên cứu đã nhận thấy một phần não bộ gắn với sự đau đớn đã được kích hoạt ở những chủ thể quan sát thấy việc người khác đang đau khổ. Họ cũng đau khổ khi thấy một người khác đau khổ. Cụ thể hơn, hai bộ phận trong não bộ, thuỳ não trước (anterior insula) và vành cung võ não (cingulate cortex), được kích hoạt mạnh mẽ trong phản ứng thương cảm, và hoạt động của chúng tương quan với trải nghiệm tiêu cực của sự đau đớn.[1]

Khi tôi tham gia thiền định với tình yêu vị tha và lòng từ bi, Tania đã để ý thấy rằng những mạng lưới não rất khác đã được kích hoạt. Cụ thể, mạng lưới gắn với các cảm xúc tiêu cực và sự phiền muộn đã không được kích hoạt trong khi thiền định với lòng từ bi, trong khi đó một số khu vực khác trong não, ví dụ như các khu vực vốn dĩ gắn với các cảm xúc tích cực, với cảm xúc về sự gắn kết và tình mẫu tử, lại được kích hoạt. .[2]

https://lh4.googleusercontent.com/d_ct2chrnlQmmJzHF_UczQNc_vDV9IBjp6kHe00M19DK6cJtnGpODzql81RfZ-tKcgl0n8zwuAOI-O8dUspV4J5Fx026yFO2dF2TYSBDMPCgQrLoGRWroiaUPquRnQJ3JeTysN7d

Bản scan não của Matthieu Ricard, nghiên cứu được thực hiện bởi Dr. Richard Davidson, 2008. ©University of Wisconsin-Madison

Chỉ có sự thương cảm làm con người mệt mỏi, chứ không phải lòng từ bi

Những điều này đã dẫn đến việc nghiên cứu những điểm khác nhau để phân biệt rõ hơn sự đồng cảm với nỗi đau của người khác và sự chia sẻ nỗi đau đó. Chúng ta cũng biết rằng, việc đồng cảm với nỗi đau của người khác một cách liên tục sẽ dẫn đến việc mất kiểm soát cảm xúc và phiền muộn. Đó là cảm giác mà y tá, bác sĩ và nhân viên bệnh viện thường trải qua vì họ phải tiếp xúc thường xuyên với những bệnh nhân, những người chịu nhiều nỗi đau. Có nhiều người phải đối diện với sự lo lắng, căng thẳng và áp lực trong nghề nghiệp của mình, điều này ảnh hưởng lớn tới mức làm họ không thể tiếp tục làm việc. Sự kiệt sức ảnh hưởng đến những người đối điện hàng ngày với nỗi đau của người khác, đặc biệt là những nghề như chăm sóc y tế hoặc công tác xã hội. Ở Mỹ, có một nghiên cứu cho thấy 60% người làm trong ngành y ảnh hưởng hoặc chịu ảnh hưởng từ việc kiệt sức, và một phần ba số người đã bị ảnh hưởng đã tạm nghỉ công việc của họ một thời gian.[3]

Trong cuộc đối thoại với Tania và đồng nghiệp của cô ấy, chúng tôi nhận ra rằng chính lòng từ bi và tình yêu vị tha đã mang đến những cảm xúc tích cực. Nó dẫn đến nhận định rằng sự kiệt sức thật ra là một dạng “empathy fatique” (thờ ơ) và không phải là “compassion fatigue” (suy giảm lòng thương). “Compassion fatigue”, thực ra, không dẫn ta đến đau khổ và chán nản, tuyệt vọng, mà ngược lại, nó củng cố sức mạnh tinh thần, sự cân bằng bên trong, và sự quyết tâm, tình yêu để giúp những người chịu đau khổ. Thực chất, theo quan điểm của chúng tôi, tình yêu và sự từ bi không làm chúng ta mệt mỏi mà ngược lại, nó giúp chúng ta vược qua sự mệt mỏi và thoát khỏi nó.[4]

Khi một người tu hành rèn luyện lòng từ bi, cô ấy hay anh ấy sẽ bắt đầu bằng cách phản ảnh những đau khổ ảnh hưởng đến con người và nguyên nhân của những khổ đau này. Để làm được điều đó, người đó tưởng tượng ra những hình thức khác nhau của sự đau khổ một cách thực tế nhất có thể, cho đến khi họ không thể chịu được nữa. Cách tiếp cận đồng cảm này nhằm tạo ra một khát vọng để khắc phục những đau khổ. Nhưng mong muốn đơn giản là chưa đủ, chúng ta phải quyết tâm mang mọi thứ lại với nhau và giải quyết chúng. Người tu tập lại đi tìm nguyên nhân dẫn đến sự khổ đau, chẳng hạn sự thiếu hiểu biết, mà thay đổi quan điểm của một người về hiện tại, hay các chất độc tinh thần, đó là hận thù, đòi hỏi và ghen tuông, gây ra càng nhiều khổ đau. Quá trình này sẽ làm phát huy sự sẵn sàng và mong muốn hành động vì lợi ích của người khác.

https://lh3.googleusercontent.com/xp1BYcz9_2t2Bz0CAuZI2Wb0UEyc5Y9OEG-hlYhCAqu-kAgbVBD1mcDshIE8g0NnN9J44snoA-OXD7AWS28nPOK2LBt-Hu3LtSdkFNlRFA2EE4l20TGScqiDNv6NM1EFJI9kUl20

Người tham dự tại Paris thực hành thiền với hướng dẫn Matthieu Ricard tại buổi giới thiệu sách Cerveau et méditation, cuốn sách được xuất bản gần đây, hợp tác với Wolf Singer. Ảnh: ©OlivierAdam, 2017

Quá trình rèn luyện lòng từ bi luôn đi kèm với việc rèn luyện tình yêu vị tha. Để bồi đắp cho tình yêu này, người thực tập bắt đầu bằng việc tưởng tượng một ai đó gần với họ, đối với người ấy, họ cảm nhận được một lòng tốt không giới hạn. Người thực tập sau đó cố gắng từng chút một để mở rộng lòng tốt đến với tất cả mọi người, như ánh nắng mặt trời chiếu sáng mà không phân biệt bất cứ thứ gì trên con đường đi của nó.

Matthieu Richard là nhà nhân đạo học, nhiếp ảnh gia, và tác giả của cuốn sách “Lời kêu gọi vì đồng vật” và “Lòng vị tha: Sức mạnh của lòng vị tha”. Ông cũng là nhà sáng lập của Karuna-Shechen, một tổ chức phi lợi nhận để giúp cải thiện cuộc sống của những cộng đồng ít được quan tâm ở Nepal, Ấn Độ và Tây Tạng thông qua giáo dục, y tế và bền vững. “Karuna” nghĩa là “từ bi”.

Ghi chú:

  1. Tổng hợp 32 nghiên cứu về đồng cảm trong mối quan hệ với nỗi đau, xem thêm C. Lamm, J. Decety, and T. Singer, “Meta-analytic evidence for common and distinct neural networks associated with directly experienced pain and empathy for pain,” in Neuroimage, 54 (3), 2011, pp. 2492–2502.
  2. Sự gia tăng của những hành động tích cực nhờ sự từ bi liên quan tới sự kích hoạt của một mạng lưới não bộ, bao gồm các vùng của võng mạc trung tâm, bụng dưới, phần xung quanh bụng, hạt nhân của thân não, hạch nhân, mặt cắt trung vị, Pallidum và putamen, tất cả các khu vực của não trước đây liên quan đến tình yêu (đặc biệt là tình mẫu tử), cảm giác thuộc về và thỏa mãn. Trong đồng cảm, các khu vực này là phần đệm phía trước và vỏ cingulate trung vị. O.M. Klimecki, et al. (2012), op. Cit ;; O. Klimecki, M. Ricard, và T. Singer (2013), op. Cit.
  3. J.S. Felton “Burnout as a clinical entity — its importance in health care workers”, trong Occupational medicine, 48 (4), 1998, pp. 237–250.
  4. Phân biệt một cách trung lập giữa lòng từ bi và sự mệt mỏi đồng cảm, xem thêm O. Klimecki và T. Singer, “Empathic distress fatigue rather than compassion fatigue? Integrating findings from empathy research in psychology and social neuroscience,” B. Oakley, A. Knafo, G. Madhavan, và D.S. Wilson, sPathological Altruism, Oxford University Press, 2011, pp. 368–383.

Posts you may like